0

Văn mẫu lớp 10: Nghị luận về thói giấu dốt của học sinh hiện nay (3 Mẫu)

Share

Nghị luận về thói giấu dốt của học sinh hiện nay gồm 3 bài văn mẫu siêu hay, ấn tượng nhất.

Qua 3 bài nghị luận về thói giấu dốt của học sinh giúp các bạn có thêm nhiều gợi ý tham khảo, trau dồi vốn kiến thức, biết được cách làm và hướng giải quyết vấn đề nêu ra trong đề bài. Từ đó nhanh chóng viết thành một bài văn nghị luận hay, hoàn chỉnh. Vậy sau đây là nội dung chi tiết tài liệu, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.

Nghị luận về thói giấu dốt của học sinh hiện nay

Suy nghĩ về thói giấu dốt của học sinh hiện nay

Sách Đắc nhân tâm đã nêu ý kiến: “Bất kì một kẻ ngốc nào cũng cố che đậy lỗi lầm và hầu hết mọi ké ngốc đều làm thế”. Quả thế, khuyết điểm không ngoại trừ bất kỳ ai, không ai có thể mạnh dạn tuyên xưng: tôi là người hoàn hảo! Giấu dốt – một hiện tượng ngày nay đã và đang phổ biến ở đại đa số học sinh, thể hiện qua sự che đậy cái kém cỏi, cái thiếu hiểu biết của mình. Khuyết điểm, kém cỏi hầu hết phát sinh từ ý thức và khả năng của mỗi con người. Giấu dốt có thể khiến chúng ta ngày càng lún sâu trong cái vỏ của sự uyên bác giả tạo.

Những hành vi giấu dốt do chính chúng ta tạo nên, nếu đối mặt với thực tại mà xua tay cho qua, nghĩ rằng sẽ không ai biết đến, ta sẽ tiếp tục sống dưới ngôi nhà học thức giả. Nếu chẳng may có ai đó biết được, chỉ rõ mà ta chông chế, phủ nhận, đổ lỗi cho hoàn cảnh thì không những ta không vươn lên được mà đem đến hậu quả khôn lường, càng khiến cho tri thức càng hạn hẹp, uy tín bị suy thoái, mất niềm tin nơi mọi người. Hẳn ai cũng biết đến anh chàng tự kiêu – giấu dốt trong “Tam đại con gà”, anh đã đem đến cho chúng ta những tràng cười thư giãn mà hơn hết đó là bài học cho những kẻ giấu dốt và là hồi chuông cảnh báo cho chúng ta tránh tình trạng che đậy sự kém cỏi, khuyết điểm của mình, bởi che giấu khuyết điểm của bản thân sẽ không làm ta trở nên tốt đẹp hơn, uy tín của ta tăng lên nếu ta chân thành công nhận khuyết điểm.

Nghị luận về thói giấu dốt của học sinh hiện nay

Kho tàng truyện cười Việt Nam được chia làm hai loại là truyện khôi hài và truyện trào phúng. Truyện khôi hài nhằm mục đích giải trí là chính, tuy vậy nó vẫn có ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng. Truyện trào phúng có mục đích đả kích, phê phán những thói hư tật xấu của người đời, của các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội phong kiến xưa kia như thói tham lam, tự cao tự đại, hay khoe khoang, thiếu khiêm tốn, giấu dốt… Truyện Tam đại con gà là một ví dụ tiêu biểu.

Tuổi trẻ có sức khoẻ, có năng lực học tập và lao động nhưng thường chủ quan, tự hào về mình quá mức thành ra kiêu căng, tự mãn. Sự kiêu căng nhiều khi khi bộc lộ qua lời nói, qua những hành động cảm tính, nông nổi: Tuổi mới lớn hăng hái nhưng bồng bột, tự tin nhưng hiếu thắng, cho rằng mình lúc nào cũng hay, cũng đúng, cái gì mình cũng có thể làm được mà không cần đến kiến thức và kinh nghiệm

Niềm tin, sự khẳng định, lòng tự hào của tuổi trẻ là những điều cần thiết trên con đường mưu sinh và tạo dựng sự nghiệp của mỗi cá nhân, bởi chính những yếu tố đó tạo nên ý chí, nghị lực và sức mạnh. Như những cánh chim bằng, tuổi trẻ muốn được thử sức với trời cao, biển rộng. Với suy nghĩ của tuổi trẻ thì đỉnh cao nào cũng có thể chinh phục được và mọi khó khăn đều không đáng ngại. Tuy nhiên, sự tự tin, tự hào phải được xây dựng trên cơ sở là đức và tài thì nó mới vững chắc và mang tính khách quan. Ngược lại, nếu tự đánh giá về mình một cách chủ quan thì sẽ dẫn đến ảo tưởng, mà ảo tưởng là mảnh đất tốt cho thói kiêu căng, tự mãn nảy nở và phát triển.

Chúng ta hãy bàn đến cái dốt vì cái dốt liên quan chặt chẽ đến thói thiếu khiêm tốn, lười học hỏi. Dốt là từ dùng để nói về con người kém thông minh, chậm hiểu, chậm tiếp thu. Dốt đặc là hoàn toàn không biết một tí gì. Ví dụ: Học sinh Tiểu học không đọc thông viết thạo là dốt. Học sinh Trung học phổ thông mà không hiểu gì về điện, về nước, về căn bậc hai… là dốt. Một người đã trưởng thành mà không biết cách làm ăn để nuôi sống bản thân là dốt. Thường thường, dốt đi đôi với lười. Người khiêm tốn thì không giấu dốt và luôn có tinh thần học hỏi. Người thiếu khiêm tốn thường hay giấu dốt nên hạn chế rất nhiều trong học tập và làm việc.

Để minh hoạ cho việc thiếu khiêm tốn và giấu dốt thì không truyện trào phúng nào hay bằng truyện Tam đại con gà, nội dung kể về sự dốt nát của anh chàng “thầy đồ” giả danh và phê phán thói giấu dốt, liều lĩnh, biết sai mà không chịu sửa của anh ta.

Nhân vật chính trong truyện Tam đại con gà là anh học trò dốt đặc cán mai (nghĩa là không biết một tí gì) mà lại dám làm thầy đồ. Các nhân vật khác chỉ làm nền cho nhân vật chính hoạt động. Điểm độc đáo của truyện chính là những tình huống đặc biệt để nhân vật thầy đồ tự bộc lộ sự dốt nát của mình.

Những bài học nhân sinh thâm thúy và bổ ích thông qua nghệ thuật gây cười bằng cử chỉ, lời nói, tình huống đáng cười và yếu tố bất ngờ được sử dụng rất đắc địa. Nội dung truyện cười này là biểu hiện sinh động cho trí thông minh, thái độ lạc quan và tinh thần đấu tranh của nhân dân lao động đối với những thói xấu trong xã hội, để làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Nghị luận bàn về thái độ khiêm tốn, không giấu dốt

Dân gian ta có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Câu nói ấy phản ánh một quan niệm sống đúng đắn của cha ông ta từ ngàn xưa: cần phải khiêm tốn, cầu thị. Vì vậy, dân gian rất bất bình với thói khoe khoang, khoác lác của lớp người “trí thức rởm” và thường lấy đó làm đề tài để chê cười, mua vui. Câu chuyện cười “Tam đại con gà” ra đời cũng vì mục đích ấy. Truyện nhắc nhở người đời nên sống khiêm tốn, không giấu dốt.

“Tam đại con gà” là loại truyện cười trào phúng mang ý nghĩa phê phán, qua đó thể hiện ý nghĩa giáo dục.

Truyện kể về một anh học trò dốt nát nhờ cái miệng “hay nói chữ” mà lòe được một người nông dân. Anh ta được đón về dạy chữ cho con gia chủ. Học đến chữ “kê” hắn không biết là chữ gì bèn bảo học trò đọc khẽ “Dủ dỉ là con dù dì”. Sau khi khấn vái, xin quẻ được thổ công “linh ứng” cho chữ “dù dì” hắn vui mừng bảo học trò đọc to mấy chữ kì cục kia. Bị gia chủ phát hiện hắn bao biện: “tôi dạy như thế là dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà kia” vì “Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà”!

Câu chuyện gây cười ở nhiều chi tiết. Làm thầy đồ mà không biết đọc một chữ đơn giản như chữ “kê”, chỉ thấy đó là một chữ “nhiều nét rắc rối” đã là một sự đáng cười. Đến sự khôn lỏi của thầy “sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khe khẽ” lại là một tiếng cười ngộ nghĩnh. Chưa hết, việc thầy đồ đi xin thổ công linh ứng cho hai chữ “dù dì” rồi đắc chí quay về bảo trẻ đọc to mấy chữ ấy càng khiến người ta thấy lạ! Nụ cười lên đến cao trào khi tình huống thầy đồ “dỏm” bị phát hiện xảy ra. Thật là lòi đuôi con chuột chù! Cái dốt lộ ra từ đầu đến đuôi, tưởng thầy không còn nước nói vào đâu được nữa. Ấy vậy mà thầy vẫn có cách giải thích: “tôi dạy thế là dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà kia”. Lạ quá! Nếu thầy đã dạy đến tam đại con gà thì chắc chắn thầy đã biết con gà rồi. Với một chữ mà dạy được đến tam đại con gà thì tài quá! Nhưng người đọc (và cả ông bố tội nghiệp) vẫn lấy làm lạ về khái niệm “tam đại con gà”, nó chưa hề được nhắc đến trong… từ điển. Nếu quả thực thầy làm được điều đó, thầy đã “phát minh” ra một khái niệm mới! Không chờ chúng ta đợi lâu, thầy đã giải thích rất… có lí: “Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà”! Đến đây thì ta vỡ ra cười òa. Những tưởng thầy đồ viện ra những chứng cứ khoa học, những sách này, sách nọ, những Khổng Tử, Mạnh Tử,… chi đây. Nhưng không, thầy viện ra một lời đồng dao của bọn trẻ mục đồng. Hóa ra thứ thầy đồ thông thạo, có thể lấy đó làm vốn làm lãi để dạy đời, có thể coi đó là thứ hơn người lại là lời đồng dao dân dã, thậm chí tầm thường của bọn trẻ con. Ta có một liên tưởng thật thú vị: thầy đồ cũng khác nào lũ trẻ, công việc dạy dỗ của thầy cũng chỉ đáng như một buổi trẻ con chăn trâu, cắt cỏ!

Với “Tam đại con gà”, người đọc được cười từ đầu đến cuối câu chuyện. Càng về cuối, tiếng cười càng giòn, càng vang hơn. Tiếng cười tập trung vào sự ngu dốt nhưng cố tình giấu dốt và thói hợm hĩnh, khoác lác của ông thầy đồ “dỏm”.

Bên cạnh “Tam đại con gà” dân gian còn có “ông Bất, ông Bồng”,… sau này Hồ Xuân Hương cũng viết “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông…”,… những tác phẩm ấy hoặc nhẹ nhàng hoặc sâu cay phê phán thói giấu dốt, hợm hĩnh của con người, đặc biệt là những kẻ trí thức nửa mùa. Chúng đã tự biến mình thành những thằng hề khéo léo làm trò cười cho thiên hạ. “Trăm năm bia miệng” vẫn còn chê cười, khinh bỉ những kẻ lố bịch, dớ dẩn. Bằng chứng là những tiếng cười như trong “Tam đại con gà” đã, đang và sẽ được lưu truyền làm bài học cho người đời sau.

Đó là bài học gì?

Là bài học về thái độ khiêm tốn trong cuộc sống. Thực tế bạn đã giỏi rồi nhưng còn có người khác giỏi hơn bởi: “Núi này cao nhưng có núi khác cao hơn”. Đó là chưa nhắc đến việc, bạn chưa giỏi, có thể không dốt như anh thầy đồ trong truyện nhưng cũng chưa hơn hẳn được ai. Trường hợp ấy, dân gian cũng dặn dò “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Quả thực, không biết mà nói là biết rồi nói sai, nói nhầm thì cũng chỉ thành trò cười cho người khác. Chi bằng ta khiêm nhường đón nhận những lời hay, ý đẹp của mọi người, từ đó tích lũy thành túi khôn của cá nhân thì tốt biết bao! Khổng Tử nói: “Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo không biết. Ấy là biết”. Lời dạy ấy thâm thúy mà thấu đáo biết bao.

Đó còn là bài học cần biết thừa nhận sai lầm đề cầu tiến bộ. Anh thầy đồ dởm làm trò cười cho chúng ta phần lớn bởi sự giấu dốt một cách lố bịch. Nếu biết nhận lỗi ta sẽ được mọi người chỉ cho con đường sửa sai. Qua đó, khắc phục được sai sót, nhờ vậy mà tiến bộ.

Lê – nin nhắn nhủ: “Học, học nữa, học mãi”. Học để không lâm vào tình cảnh anh thầy đồ dở khóc dở cười. Và đó cũng là con đường duy nhất để mỗi chúng ta hoàn thiện, nâng cao giá trị bản thân.

Câu chuyện cười từ xưa để lại cho đến nay vẫn mang lại cho ta những tiếng cười thú vị. Quan trọng hơn, ta đón nhận được những bài học sâu xa của cha ông đời trước, Bài học ấy cần cho mỗi con người, quyết định sự thành bại trong cuộc sống của mỗi chúng ta: Bài học về sự khiêm tốn, không giấu dốt, không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức và đạo đức cá nhân.

5/5 - (785 votes)
Xem Thêm:   Văn mẫu lớp 9: Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương