0

Soạn bài Tìm hiểu yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận

Share

Soạn văn lớp 8: Tìm hiểu yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận là một tài liệu vô cùng hữu ích mà chúng tôi muốn giới thiệu đến tất cả các bạn ngay sau đây.

Với tài liệu này, các bạn sẽ dễ dàng chuẩn bị trước nội dung của bài học trước ở nhà và nhanh chóng tiếp thu kiến thức mà các thầy cô giảng dạy cho mình khi ở trên lớp. Tài liệu soạn văn 8: Tìm hiểu yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận sẽ bao gồm hai phần chính là: soạn bài đầy đủ và soạn bài ngắn gọn. Sau đây, chúng tôi xin mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Soạn văn 8: Tìm hiểu yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận

Soạn văn Tìm hiểu yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận đầy đủ

I. Kiến thức cơ bản

1. Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi.

a. Sau nữa, việc săn bắt thứ “vật liệu biết nói” đó, mà lúc bấy giờ người ta gọi là “chế độ lính tình nguyện” (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ra những vụ nhũng lạm hết sức trắng trợn.

Đây! Chế độ lính tình nguyện ấy được tiến hành như thế này: Vị “chúa tỉnh” – mỗi viên công sứ ở Đông Dương quả là một vị “chúa tỉnh” – ra lệnh cho bọn quan lại dưới quyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ một số người nhất định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng. Các quan cứ liệu mà xoay xở. Mà cái ngón xoay xở […] thì các ông tướng ấy thạo hết chỗ nói, nhất là xoay xở làm tiền.

Thoạt tiên, chúng tóm những người khỏe mạnh, nghèo khổ, những người này phải chịu chết thôi nhưng không còn kêu cứu vào đâu được. Sau đó, chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: “đi lính tình nguyện, hoặc xì tiền ra”.

(Nguyễn Ái Quốc, Thuế máu)

b. Ấy thế mà trong một bản bố cáo với những người bị bắt lính, phủ toàn quyền Đông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những người lính sẽ còn sống sót và truy tặng những người sẽ hi sinh “cho Tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng:

“Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”. (in đậm: tấp nập; không ngần ngại)

Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh lỵ, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hoà và ở nhiều nơi khác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập” và “không ngần ngại”?

(Nguyễn Ái Quốc, Thuế máu)

Câu hỏi:

– Vì sao đoạn trích (a) có yếu tố tự sự nhưng không phải là văn bản tự sự, còn đoạn trích (b) có yếu tố miêu tả nhưng không phải là văn bản miêu tả?

– Giả sử đoạn trích (a) không có những chi tiết cụ thể kể lại một kiểu bắt lính kì quặc và tàn ác, liệu ta có thể lường hết được việc mộ lính “tình nguyện” đã gây ra sự nhũng lạm trắng trợn đến mức nào không? Còn ở đoạn trích (b) nếu thiếu những dòng miêu tả sinh động về những người lính Việt Nam bị xích tay, hay bị nhốt trong trường học, “có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn” thì ta có hình dung rõ sự giả dối, lừa gạt trong lời rêu rao về “lòng sốt sắng đầu quân tấp nập và không ngần ngại” được không?

– Từ việc tìm hiểu trên, em có nhận xét gì về vai trò của các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận?

Trả lời:

– Đoạn trích ( a) và (b ) có sử dụng yếu tố miêu tả và tự sự nhưng cả hai đều là văn bản nghị luận. Cả hai đều nhằm mục đích vạch rõ sự phải trái, đúng sai để cho mọi người cùng thấy và có thái độ phản bác thích hợp. trong khi yếu tố tự sự và miêu tả trong hai đoạn a, b chỉ có tác dụng làm tăng thêm sự thuyết phục của văn bản.

– Nếu như ở đoạn a không có các chi tiết cụ thể kể về sự việc bắt lính thì người đọc không thể hình dung được việc mộ lính tình nguyện đã diễn ra hết sức trắng trợn và tinh vi đến mức nào.

– Nếu như ở đoạn b không có những dòng miêu tả về hình ảnh những người lính Việt Nam bị xích tay, bị nhốt trong trường học thì người đọc sẽ không thể hình dung được sự thê thảm của những người bị bắt lính như thế nào, văn bản sẽ mất đi sự sinh động cụ thể.

=> Yếu tố tự sự và miêu tả giúp cho văn bản nghị luận trở nên sinh động, cụ thể, và có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn.

2. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi.

Các dân tộc anh em trên đất nước chúng ta đã sáng tạo ra muôn vàn truyện anh hùng đẹp. Có truyện đã trở thành trường ca lớn, như Đăm Săn, Xinh Nhã v.v… riêng Chàng Trăng của dân tộc M’nông và Nàng Han của dân tộc Thái là hai truyện có nhiều nét rất giống với truyện Thánh Gióng ở miền xuôi.

Mẹ chàng trăng đã nằm mơ thấy một con thỏ trắng nhảy qua ngực mà thụ thai đẻ ra chàng. Sợ tù trưởng phạt vạ, mẹ chàng bỏ chàng trên rừng, phó mặc cho trời đất. Suốt ngày chàng không nói, không cười, chỉ thích chơi khiên (a) đao. Sau đó, chàng cưỡi ngựa đá khổng lồ do trời đất cho, đi giết một tên bạo chúa đến chiếm đất rồi cuối cùng biến vào một mặt trăng để đêm đêm soi xuống dòng thác Pông-gơ-nhi những vầng sáng bạc.

Còn nàng Han là một cô gái thông minh dũng cảm, lớn lên đi đánh giặc ngoại xâm. Quân nàng liên kết với người Kinh, theo cờ lệnh bằng chăn dệt chỉ ngũ sắc (b) của nàng mà đánh tan được giặc. Mường bản đang vui thắng trận thì nàng hóa thành tiên lên trời, sau khi tắm ở sông Nậm Bờ, để lại trên bờ thanh gươm nàng đã dùng diệt giặc. Từ đấy, hằng năm đến ngày nàng lên trời, dân bản mường lại mở hội rước cờ nàng Han, vui chơi rồi kéo ra sông Nậm Bờ tắm. Và trên dãy núi Pu-keo vẫn còn đền thờ nàng Han ở chân rừng, gần đây có những vũng, những ao chi chít nối tiếp nhau là vết chân voi ngựa của quân nàng Han và quân đội của người Kinh.

So sánh với những truyện nói trên, chúng ta thấy truyện Thánh Gióng thực sự là một bản anh hùng ca và là anh hùng ca của người Việt cổ.

(Theo Cao Huy Đỉnh, Người anh hùng làng Gióng)

(a) Khiên: vật dùng để che, đỡ cho tên, gươm, giáo khỏi trúng người trong chiến trận thời xưa.

(b) Chỉ ngũ sắc: chỉ năm màu (ngũ: năm; sắc: màu).

Câu hỏi:

a. Tìm những yếu tố tự sự, miêu tả trong văn bản trên và cho biết tác dụng của chúng.

b. Vì sao tác giả văn bản trên đã không kể lại đầy đủ và cặn kẽ toàn bộ hai truyện Chàng Trăng và Nàng Han, mà chỉ tả cụ thể một số hình ảnh và kể kĩ một số chi tiết trong những câu chuyện ấy?

Trả lời:

a. Những yếu tố miêu tả và biểu cảm trong đoạn văn trên:

– Yếu tố tự sự kể về chuyện chàng Trăng ( mẹ chàng mơ thấy thỏ trắng nhảy qua ngực và đẻ ra chàng, sau đó chàng giết tên bạo chúa và biến vào mặt trăng) của dân tộc M’nông và chuyện Nàng Han (có công đánh giặc ngoại xâm sau đó nàng bay về trời) của dân tộc Thái.

– Yếu tố miêu tả:

+ Mơ thấy thỏ trắng nhảy qua ngực.

+ Chàng không nói, không cười, chỉ thích chơi khiên đao

+ Dòng thác Pông-gơ-ni những vầng sáng bạc

+ Cờ lệnh bằng chăn dệt ngũ sắc

+ Những vũng, những ao chi chít nối tiếp vết chân voi ngựa của quân nàng.

b. Mục đích của văn bản nhằm khẳng định “các dân tộc anh em trên đất nước chúng ta đã sáng tạo ra muôn vàn thiên truyện anh hùng đẹp. “Vì thế việc miêu tả và tự sự chỉ được dùng khi những yếu tố đó có lợi cho việc làm nổi bật luận điểm này.

3. Từ việc tìm hiểu trên, hãy cho biết: Khi đưa các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận, cần chú ý những gì?

Trả lời:

Từ việc tìm hiểu trên, cần chú ý khi đưa ra các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận, cần chú ý:

– Không sử dụng tràn lan các yếu tố miêu tả, tự sự. Bởi lẽ đây không phải là mục đích của văn bản nghị luận.

– Chỉ dùng với mục đích làm sáng tỏ luận điểm, làm cho luận điểm trở nên nổi bật.

II. Rèn luyện kỹ năng

1. Chỉ ra các yếu tố tự sự và miêu tả trong đoạn văn nghị luận dưới đây và cho biết tác dụng của chúng.

Sắp Trung thu. Trời xứ Bắc hẳn trong, trăng hẳn tròn và sáng. Đêm trước rằm đầu tiên từ ngày bị giam giữ. Mười mấy ngày qua, trừ cái bực mình ban đầu khi bị bắt vô cớ, cái khẳng định mình vẫn là khách tự do, chỉ là một xâu những sự vật lỉnh kỉnh, lích kích đáng lạ, đáng cười, đáng ghét của bộ mặt nhà giam. Bỗng đêm nay trăng sáng quá chừng. Trong suốt, bao la, huyền ảo, vỗ về. Ngay bên cửa sổ, lồng trong bóng cây. Đêm nay rất đẹp. Trong lòng rạo rực bao nỗi niềm. Cầm lòng không đậu, người tù phải thốt lên:

“Đối thử lương tiêu nại nhược hà”

(Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ)

[…] Vậy trước cảnh đẹp đêm nay, trước cái đẹp đêm lành này (đối thử lương tiêu), biết làm sao bây giờ (nại nhược hà)? Một câu hỏi hay một câu than đều có nghĩa. Nó là dấu hiệu của một tâm trạng dạt dào nên sinh băn khoăn. Hơn nữa, bối rối, xao xuyến. Nó ăm ắp tình tứ, nó rạo rực, nó muốn yêu, muốn thưởng thức, muốn chan hòa, muốn giãi bày, bộc lộ. Phải đi ra với đêm, phải tắm mình trong nguyệt, phải vui, phải làm thơ. Tâm trạng người tù như vậy nhưng người tù đành như phải làm lơ. Như đành để mặc cho đêm đẹp đêm lành, cho trăng mời trăng giục. Nghĩa là bao nhiêu dạt dào trước trăng trước đêm, trước cái đẹp cái lành, phải ẩn vào bên trong, vùi vào im lặng.

(Lê Trí Viễn, Một số bài giảng thơ văn Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Trả lời:

Những yếu tố tự sự và miêu tả có trong đoạn văn là:

+ Sắp trung thu.

+ Mười mấy ngày qua… của bộ mặt nhà giam.

+ Đêm nay rất đẹp.

+ Trong lòng rạo rực bao nỗi niềm.

Tác dụng: Giúp người đọc hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sáng tác bài thơ và tâm trạng của nhà thơ trong đêm trăng.

– Yếu tố miêu tả:

+ Bỗng đêm nay trăng sáng quá chừng. Trong suốt bao la, huyền ảo, vỗ về. Ngay bên cửa sổ, lồng trong bóng cây.

+ Nó ăm ắp tình tứ, nó rạo rực, nó muốn yêu, muốn thưởng thức, muốn chan hòa, muốn giãi bày, bộc lộ.

+ Như đành để mặc cho đêm đẹp, đêm lành cho trăng mời trăng giục.

Tác dụng: Giúp người đọc hiểu được khung cảnh đẹp của đêm trăng và tâm hồn phơi phới của thi nhân.

Các yếu tố tự sự và miêu tả này nhằm giúp ta hiểu thêm tình cảm của Bác dành cho thiên nhiên, cho ánh trăng đêm rằm.

2. Nếu viết bài tập làm văn theo đề bài “Nêu ý kiến của em về vẻ đẹp của bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen” thì em có cần vận dụng các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài làm không? Vì sao?

Trả lời:

Khi viết bài văn nghị luận “Nêu ý kiến của em về vẻ đẹp của bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen”, người viết có thể sử dụng các yếu tố miêu tả để bài văn hay hơn, sinh động hơn. Bởi vì khi nghị luận về vẻ đẹp câu ca:”trong đầm gì đẹp bằng sen” ta cần vận dụng yếu tố miêu tả sẽ giúp người viết gợi tả được vẻ đẹp của hoa sen, của hồ sen đồng thời kết hợp với yếu tố tự sự giúp người viết đối thoại với bạn đọc hoặc nói lên sự gắn bó, những kỉ niệm của bản thân với hoa sen.

Soạn văn Tìm hiểu yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận ngắn gọn

I. Yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận

Câu 1 (trang 113, 114 sgk Ngữ văn 8 tập 2)

– Đoạn trích (a) và (b) có sử dụng yếu tố miêu tả và tự sự nhưng đều là văn bản nghị luận. Nhờ các yếu tố này mà luận cứ của văn bản nghị luận chân thực, rõ ràng, sinh động và có sức thuyết phục mạnh mẽ.

– Các yếu tố tự sự ở đoạn (a) để kể về kiểu bắt lính kỳ quặc, tàn ác và nhẫn tâm của bọn thực dân. Các yếu tố miêu tả ở đoạn (b) để trình bày sự lừa gạt trắng trợn, những lời lẽ rêu rao về “lòng sốt sắng đầu quân tấp nập và không ngần ngại” của phủ toàn quyền.

– Nhận xét: Nhờ có các yếu tố miêu tả mà biểu cảm giúp cho việc trình bày luận cứ được cụ thể, sinh động, do đó có tính thuyết phục mạnh mẽ hơn.

Câu 2 (trang 115 sgk Ngữ văn 8 tập 2)

a.

– Yếu tố tự sự kể về chuyện chàng Trăng ( mẹ chàng mơ thấy thỏ trắng nhảy qua ngực và đẻ ra chàng, sau đó chàng giết tên bạo chúa và biến vào mặt trăng) của dân tộc M’nông và chuyện Nàng Han (có công đánh giặc ngoại xâm sau đó nàng bay về trời) của dân tộc Thái.

– Yếu tố miêu tả : “suốt ngày chàng không nói, không cười chỉ thích khiên đao,… biến vào mặt trăng để đêm đêm soi xuống dòng thác Pông-gơ-nhi những vầng sáng bạc”, “gần đấy có những vũng, những ao chi chít nối tiếp nhau và vết chân voi ngựa của quân nàng Han”,…

b. Tác giả văn bản trên đã không kể lại đầy đủ và cặn kẽ toàn bộ hai truyện Chàng Trăng và Nàng Han, mà chỉ tả cụ thổ một số hình ảnh và xể kĩ một số chi tiết trong những câu chuyện mà thôi, vì đây là những chi tiết, hình ảnh có lợi cho việc làm sáng tỏ luận điểm: Hai truyện Chàng Trăng và Nàng Han giống truyện Thánh Gióng, và đi sâu vào những chi tiết làm sáng tỏ luận điểm

Câu 3 (trang 115 sgk Ngữ văn 8 tập 2)

Từ việc tìm hiểu trên, cần chú ý khi đưa ra các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận, cần chú ý:

– Không sử dụng tràn lan các yếu tố miêu tả, tự sự. Bởi lẽ đây không phải là mục đích của văn bản nghị luận.

– Chỉ dùng với mục đích làm sáng tỏ luận điểm, làm cho luận điểm trở nên nổi bật.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 116 sgk Ngữ văn 8 tập 2)

– Yếu tố tự sự:

+ Đêm trước rằm đầu tiên từ ngày bị giam giữ.

+ Mười mấy ngày qua, trừ cái bực mình ban đầu khi bị bắt vô cớ, chỉ là một xâu những vật lỉnh kỉnh, lích kích đáng lạ, đáng cười, đáng ghét của bộ mặt nhà giam.

+ Phải đi ra với đêm, phải tắm mình trong nguyệt, phải vui, phải làm thơ….

– Yếu tố miêu tả:

+ Trời xứ Bắc hẳn trong, trăng hẳn tròn và sáng. Đêm nay trăng sáng quá chừng. Trong suốt, bao la, huyền ảo, vỗ về. Ngay bên cửa sổ, lồng trong bóng cây…

+ Đêm nay rất đẹp, rạo rực bao nỗi niềm, cầm lòng không đậu, người tù phải thốt lên…

+ Nó ăm ắp tình tứ, nó rạo rực, nó muốn yêu, muốn thưởng thức, muốn chan hòa, muốn giãi bày, bộc lộ…

Tác động: Trong đoạn văn nghị này, yếu tố tự sự và miêu tả, đặc biệt là miêu tả rất dồi dào, phong phú. Nhưng đây vẫn hoàn toàn không phải là đoạn văn tả cảnh đêm trăng và tâm trạng người tù mà mục đích chủ yếu muốn làm từ là khắc họa cô thể hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Vọng nguyệt và tâm trạng của người tù.

Câu 2 (trang 116 sgk Ngữ văn 8 tập 2)

Cho đề bài: “Nêu ý kiến của em về vẻ đẹp của bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen” thì em cần vận dụng các yếu tố tự sự vào miêu tả làm bài.”

– Sử dụng yếu tố miêu tả khi:

+ Tả vẻ đẹp của bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen”, các em có thể vận dụng yếu tố tự sự và miêu tả vào làm ở một số đoạn nhất định.

– Tự sự khi:

+ Kể về một kỉ niệm cảnh đầm sen giữa mùa hè.

+ Hoặc, một kỉ niệm về những câu thơ, bài thơ nói về vẻ đẹp của bông sen.

5/5 - (516 votes)
Xem Thêm:   Văn mẫu lớp 9: Nghị luận Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ (3 mẫu)