0

Soạn bài Ôn tập về luận điểm – Soạn văn 8 tập 2 bài 24

Share

Soạn văn 8: Ôn tập về luận điểm là một tài liệu vô cùng hữu ích, mà sau đây chúng tôi muốn giới thiệu đến tất cả các bạn học sinh.

Tài liệu này, sẽ gồm hai phần chính là: soạn văn chi tiết và soạn văn đầy đủ, được chúng tôi biên soạn theo sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 2. Sau đây, xin mời tất cả các bạn cùng tham khảo.

Soạn văn lớp 8: Ôn tập về luận điểm

Soạn văn Ôn tập về luận điểm chi tiết

I. Kiến thức cơ bản

A. Khái niệm luận điểm

1. Xem lại Ngữ văn 7, tập hai và cho biết: Luận điểm là gì? Lựa chọn câu trả lời đúng trong các câu sau:

a. Luận điểm là vấn đề được đưa ra giải quyết trong bài văn nghị luận.

b. Luận điểm là một phần của vấn đề được đưa ra giải quyết trong bài văn nghị luận.

c. Luận điểm là những tư tưởng, quan điểm, chủ trương cơ bản mà người viết (nói) nêu ra trong bài văn nghị luận.

Trả lời:

Đáp án đúng là c: Luận điểm là những tư tưởng, quan điểm, chủ trương cơ bản mà người viết (nói) nêu ra trong bài văn nghị luận.

2.

a. Bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ngữ văn 7, tập hai, trang 24 – 25) có những luận điểm nào? Chú ý phân biệt luận điểm xuất phát dùng làm cơ sở và luận điểm chính dùng làm kết luận của bài.

b. Một bạn cho rằng chiếu dời đô của Lý Công Uẩn gồm hai luận điểm:

– Luận điểm 1: Lí do cần phải dời đô.

– Luận điểm 2: Lí do có thể coi thành Đại La là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

Xác định luận điểm như vậy có đúng không? Vì sao?

Trả lời:

a. Trong bài tinh thần yêu nước của nhân dân ta Chủ tịch Hồ Chí Minh có nêu những luận điểm:– Khẳng định tinh thần yêu nước của nhân dân ta nồng nàn, mạnh mẽ.

– Tự hào về truyền thống yêu nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm từ thời xa xưa.

– Những biểu hiện tinh thần yêu nước thời hiện tại (chống Pháp).

– Nhiệm vụ làm cho tinh thần yêu nước trở thành hành động.

b. Những luận điểm được đưa ra đủ để khái quát luận điểm trong bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn. Vì trong bài Lý Công Uẩn nêu đầy đủ hai luận điểm:

+ Lý do cần phải dời đô.

+ Lý do coi thành Đại La là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

B. Mối quan hệ giữa luận điểm với vấn đề cần giải quyết trong bài văn nghị luận.

1.

a. Vấn đề được đặt ra trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là gì? Có thể làm sáng tỏ vấn đề đó được không, nếu trong bài văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đưa ra luận điểm: “Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn”?

b. Trong Chiếu dời đô, nếu Lý Công Uẩn chỉ đưa ra luận điểm: “Các triều đại trước đây đã nhiều lần thay đổi kinh đô” thì mục đích của nhà vua khi ban chiếu có thể đạt được không? Tại sao?

Trả lời:

Vấn đề đặt ra trong bài là: tinh thần yêu nước của nhân dân ta.Nếu chỉ đưa ra một luận điểm “Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn” thì không thể làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ra trong bài.

b. Trong “Chiếu dời đô”, nếu Lý Công Uẩn chỉ đưa ra luận điểm: Các triều đại trước đây đã nhiều lần thay đổi kinh đô” thì mục đích của nhà vua khi ban chiếu không thể đạt được. Một luận điểm đơn lẻ đó không đủ sức thuyết phục về việc dời đô.

2. Từ sự tìm hiểu trên, em rút ra được những kết luận gì về mối quan hệ giữa luận điểm với vấn đề cần giải quyết trong bài văn nghị luận.

Trả lời:

– Từ đó, có thể rút ra mối quan hệ giữa luận điểm và vấn đề cần giải quyết là mối quan hệ khăng khít.

C. Mối quan hệ giữa các luận điểm trong bài văn nghị luận

1. Để viết bài tập làm văn theo đề bài: “Hãy trình bày rõ vì sao chúng ta cần phải đổi mới phương pháp học tập”, em sẽ chọn hệ thống luận điểm nào trong hai hệ thống sau:

Hệ thống (1)
Hệ thống (2)

(a) Phương pháp học tập có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập.

(b) Cần thay đổi phương pháp học tập cũ (thụ động, máy móc, xa thực tế) vì nó không phù hợp với yêu cầu của học tập, không đưa lại kết quả tốt.

(c) Cần theo phương pháp học tập mới (chủ động, sáng tạo, kết hợp học với hành) vì nó phù hợp với yêu cầu của học tập, đưa lại kết quả tốt.

(a) Chỉ cần đổi mới phương pháp học tập là kết quả học tập sẽ được nâng cao nhanh chóng.

(b) Do đó, người học sinh cần phải thường xuyên thay đổi cách học tập.

(c) Chúng ta còn chưa chăm học, còn hay nói chuyện riêng.

(d) Nếu chúng ta học tập theo phương pháp mới thì kết quả sẽ tốt hơn.

(Gợi ý: xét xem hệ thống luận điểm nào đạt được các yêu cầu:

– Hoàn toàn chính xác.

– Thật sự liên kết với nhau.

– Phân biệt rành mạch các ý với nhau, bảo đảm cho chúng không bị trùng lặp, chồng chéo.

– Được sắp xếp theo một trình tự hợp lí: luận điểm trước đặt cơ sở cho luận điểm sau, còn luận điểm sau phát huy được kết quả của luận điểm trước.)

Trả lời:

Để viết bài tập làm văn theo đề bài: ” Hãy trình bày rõ vì sao chúng ta phải đổi mới phương pháp học tập” chọn hệ thống luận điểm (1) vì:

+ Luận điểm có tính đúng đắn.

+ Các luận điểm rành mạch, rõ ràng, không trùng lặp, tối nghĩa.

+ Được sắp xếp theo trình tự hợp lý

2. Từ sự tìm hiểu trên, em rút ra được kết luận gì về luận điểm và mối quan hệ giữa các luận điểm trong bài văn nghị luận?

Trả lời:

Các luận điểm trong bài văn nghị luận cần được liên kết chặt chẽ với nhau, nhưng cũng phải rành mạch, không trùng lặp. Luận điểm nêu trước chuẩn bị cơ sở cho luận điểm nêu sau để dẫn tới kết luận.

II. Rèn luyện kỹ năng

1. Đoạn văn sau đây nêu lên luận điểm “Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc” hay luận điểm “Nguyễn Trãi như một ông tiên ở trong tòa ngọc”? Hãy giải thích sự lựa chọn của em.

Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi, đã ca ngợi Nguyễn Trãi như sau: “Gió thanh hây hẩy gác vàng, người như một ông tiên trong tòa ngọc, cái tài làm hay, làm đẹp cho nước, từ xưa chưa có bao giờ…” Nguyễn Trãi không phải là một ông tiên. Nguyễn Trãi là người chân đạp đất

Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lý tưởng cao quý. Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc. Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Nguyễn Trãi rất xứng đáng với lòng khâm phục và quý trọng của chúng ta. Ca ngợi người anh hùng dân tộc, chúng ta đã rửa mối “hận nghìn năm” của Nguyễn Trãi!

(Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc)

Trả lời:

Đoạn văn trên có luận điểm là “Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc”

Vì ý kiến “Nguyễn Trãi như một ông tiên ở trong tòa ngọc” là lời nhận xét của Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi, khi nói về Nguyễn Trãi chứ không phải là tư tưởng, quan điểm của Phạm Văn Đồng khi nhắc về Nguyễn Trãi

Theo tác giả, Nguyễn Trãi là “anh hùng dân tộc” bởi ông đã hòa mình với dân tộc, hết lòng với sự hưng thịnh, phát triển của đất nước. Ông không chỉ mang tới những vần thơ đẹp mà người ta còn biết tới Nguyễn Trãi với tư cách là một người tham mưu đại tài. Đó cũng là cách Phạm Văn Đồng khẳng định tài năng của Nguyễn Trãi.

2. Nếu phải viết một bài tập làm văn để giải thích vì sao có thể nói rằng giáo dục là chìa khóa của tương lai thì:

a. Em sẽ chọn những luận điểm nào trong số các luận điểm dưới đây:

– Giáo dục có tác dụng điều chỉnh độ gia tăng dân số.

– Giáo dục tạo cơ sở cho sự tăng trưởng kinh tế.

– Giáo dục giải phóng con người, giúp con người thoát khỏi áp bức và sự lệ thuộc vào quyền lực của người khác để đạt được sự phát triển chính trị và tiến bộ xã hội.

– Giáo dục đào tạo thế hệ người sẽ xây dựng xã hội tương lai.

– Nước ta là một nước văn hiến có truyền thống giáo dục lâu đời.

– Giáo dục góp phần bảo vệ môi trường sống.

– Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai.

b. Em sẽ sắp xếp các luận điểm đã lựa chọn (và đã sửa lại, nếu cần) theo trình tự nào? Vì sao?

Trả lời:

– Các luận điểm được lựa chọn phải giải quyết được vấn đề giáo dục là chìa khóa của tương lai. Những luận điểm không liên quan tới vấn đề then chốt của tương lai thì cần gạt bỏ. Những luận điểm chưa làm rõ vấn đề chìa khóa của tương lai thì cần gạt bỏ.

– Hệ thống luận điểm có thể sắp xếp như sau:

+ Giáo dục luôn gắn liền với mọi vấn đề của xã hội, nó có tác dụng kìm nén hoặc thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

+ Giáo dục càng có ý nghĩa đối với sự phát triển trong tương lai của nhân loại, vì nó tạo ra mọi tiền đề cho sự phát triển đó.

+ Giáo dục trực tiếp đào tạo ra những chủ nhân của xã hội tương lai.

+ Giáo dục là chìa khóa cho sự phát triển khoa học, tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh tỉ lệ dân số, tạo cân bằng môi trường sinh thái… đem lại công bằng, dân chủ, văn minh.

+ Giáo dục là chìa khóa của tương lai.

Soạn văn Ôn tập về luận điểm ngắn gọn

I. Khái niệm luận điểm

Câu 1 (trang 73 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Câu trả lời đúng: c

Câu 2 (trang 73 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

a. Bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta có những luận điểm sau:

– Nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước.

– Lòng yêu nước là truyền thống quý báu.

– Ngày nay, đồng bào cũng có lòng yêu nước nồng nàn.

– Nhiệm vụ của Đảng là làm cho tinh thần yêu nước phát huy mạnh mẽ.

→ Luận điểm chính của bài là: Nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước.

b. Xác định Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn thành 2 luận điểm như vậy là không đúng.

– Vì đó mới chỉ là vấn đề chứ chưa được coi là luận điểm.

II. Mối quan hệ giữa luận điểm với vấn đề cần giải quyết trong bài văn nghị luận

Câu 1 (trang 73 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

a. Vấn đề được đặt ra trong bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

– Nếu trong văn bản, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đưa ra một luận điểm ” Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn” thì không đủ làm sáng tỏ vấn đề.

b. Nếu chỉ đưa ra luận điểm: “Các triều đại trước đây đã nhiều lần thay đổi kinh đô” thì chưa đủ để đạt được mục đích của nhà vua khi ban chiếu. Vì: Mục đích của dời đô của Lý Công Uẩn là muốn bày tỏ ý muốn dời đô từ Hoa Lư về Đại La.

Câu 2 (trang 73 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Mối quan hệ giữa luận điểm với vấn đề cần giải quyết:

– Luận điểm cần phải chính xác, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu giải quyết vấn đề và đủ làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra.

III. Mối quan hệ giữa các luận điểm trong bài văn nghị luận.

Câu 1 (trang 74 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Để viết bài tập làm văn theo đề bài: ” Hãy trình bày rõ vì sao chúng ta phải đổi mới phương pháp học tập” chọn hệ thống luận điểm (1).

Câu 2 (trang 74 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Kết luận về luận điểm và mối liên hệ giữa luận điểm trong bài văn nghị luận: Luận điểm cần phải chính xác, rõ ràng, phù hợp với vấn đề và đủ để giải quyết vấn đề. Các luận điểm phải được liên kết chặt chẽ với nhau và được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.

IV. Luyện tập

Câu 1 (trang 75 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

Luận điểm của phần văn bản ấy không phải là “Nguyễn Trãi là một ông tiên”, cũng không hẳn là “Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc”, mà là “Nguyễn Trãi là tinh hoa của đất nước, dân tộc và thời đại lúc bấy giờ”.

Trong đoạn văn sau nêu lên luận điểm “Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc” vì:

Luận điểm chính trong bài nằm ở câu mở đầu: ” Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn của Nguyễn Trãi… chưa có bao giờ”

Các luận điểm sau làm cơ sở:

+ Nguyễn Trãi không phải là ông tiên mà là người Việt Nam tận tụy cho tâm hồn cao quý, thấu hiểu nỗi lòng người dân.

+ Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, tinh hoa của dân tộc.

+ Nguyễn Trãi xứng đáng với lòng khâm phục và quý trọng của chúng ta.

Câu 2 (trang 75 sgk Ngữ văn lớp 8 tập 2)

a. Em sẽ chọn các luận điểm: Giáo dục có tác dụng điều chỉnh độ gia tăng dân số; Giáo dục tạo cơ sở cho sự tăng trưởng kinh tế; Giáo dục giải phóng con người, giúp con người thoát khỏi áp bức và sự lệ thuộc vào quyền lực của người khác để đạt được sự phát triển chính trị và tiến bộ xã hội; Giáo dục đào tạo thế hệ người sẽ xây dựng xã hội tương lai; Giáo dục góp phần bảo vệ môi trường sống.

b. Hệ thống luận điểm có thể sắp xếp như sau:

+ Giáo dục luôn gắn liền với mọi vấn đề của xã hội, nó có tác dụng kìm nén hoặc thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

+ Giáo dục càng có ý nghĩa đối với sự phát triển trong tương lai của nhân loại, vì nó tạo ra mọi tiền đề cho sự phát triển đó.

+ Giáo dục trực tiếp đào tạo ra những chủ nhân của xã hội tương lai.

+ Giáo dục là chìa khóa cho sự phát triển khoa học, tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh tỉ lệ dân số, tạo cân bằng môi trường sinh thái… đem lại công bằng, dân chủ, văn minh.

+ Giáo dục là chìa khóa của tương lai.

5/5 - (651 votes)
Xem Thêm:   Tập làm văn lớp 3: Kể lại câu chuyện Bác sĩ Y-éc-xanh theo lời của bà khách (3 mẫu)