0

Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Soạn văn 12 tập 2 tuần 30 (trang 159)

Share

Trong chương trình Ngữ văn lớp 12, học sinh sẽ được hướng dẫn tìm hiểu về tác phẩm Nhìn về vốn văn hóa dân tộc.

Soan bai Nhin ve von van hoa dan toc –

caubinhan.com sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 12: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc. Với tài liệu này, hy vọng các em học sinh có thể chuẩn bị bài một cách nhanh chóng, đầy đủ.

Soạn văn 12: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc

Tác phẩm Nhìn về vốn văn hóa dân tộc

Nghe đọc Nhìn về vốn văn hóa dân tộc:

Trong lúc chờ đợi kết luận khoa học của các ngành chuyên môn, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét về vài ba mặt của cái vốn văn hoá dân tộc; không phải cái hình thành vào thời kì định hình mà là cái ổn định dần, tồn tại cho đến trước thời cận – hiện đại. Chúng tôi không nghĩ đó là đặc sắc văn hoá dân tộc nhưng chắc chắn có liên quan gần gũi với nó. […]

Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ,… phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá, thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hoá của dân tộc đó. Ở ta, thần thoại không phong phú – hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt, nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lý. Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng […] bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thơ ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá.

Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hoá của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị. […]

Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người. Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ […]. Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo quốc hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị kỉ, cái mới, không dễ hoà hợp nhưng cũng không cự tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kỳ vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải.

Không có công trình kiến trúc nào, kể cả của vua chúa, nhằm vào sự vĩnh viễn. Hình như ta coi trọng Thế hơn Lực, quý sự kín đáo hơn sự phô trương, sự hoà đồng hơn rạch ròi trắng đen. Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, nhiều bất trắc?

Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hoá, người Việt Nam có nền văn hoá của mình. Những cái thô dã, những cái hung bạo đã bị xoá bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà. Không có khát vọng để hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn.

Những cái vừa nói là cái đã lắng đọng, đã ổn định, chắc chắn là kết quả của sự dung hợp của cái vốn có, của văn hoá Phật giáo, văn hoá Nho giáo, cái được dân tộc sàng lọc, tinh luyện để thành bản sắc của mình. Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc. Có điều, để thích ứng với cái vốn có, Phật giáo không được tiếp nhận ở khía cạnh trí tuệ, cầu giải thoát, mà Nho giáo cũng không được tiếp nhận ở khía cạnh nghi lễ tủn mủn, giáo điều khắc nghiệt. Đạo giáo hình như không có nhiều ảnh hưởng trong văn hoá nhưng tư tưởng Lão – Trang thì lại ảnh hưởng nhiều đến lớp trí thức cao cấp, để lại dấu vết khá rõ trong văn học.

Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài. Về mặt đó, lịch sử chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh.

Soạn văn Nhìn về vốn văn hóa dân tộc chi tiết

I. Tác giả

– Trần Đình Hượu (1926 – 1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

– Ông là một nhà nghiên cứu về các vấn đề lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam trung cận đại.

– Năm 2000, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.

– Một số công trình nghiên cứu: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 (1988), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Đến hiện đại từ truyền thống (1996), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông (2001)…

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– Nhìn về vốn văn hóa dân tộc trích từ phần II, bài “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” in trong cuốn Đến hiện đại từ truyền thống.

– Nhan đề do người biên soạn SGK đặt.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

– Phần 1: Từ đầu đến “nhưng chắc chắn có liên quan gần gũi với nó”: Lời nhân xét về nền văn hóa dân tộc.

– Phần 2. Tiếp theo đến “để lại dấu vết khá rõ trong văn học”: Đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam.

– Phần 3. Còn lại: Con đường hình thành văn hóa.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Nhận xét về nền văn hóa dân tộc

Lời dẫn dắt “Trong lúc chờ đợi kết quả khoa học…văn hóa dân tộc”: Cách nêu vấn đề ngắn gọn, khách quan.

2. Đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam

a. Hạn chế và thế mạnh

* Hạn chế:

– Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.

– Hạn chế trên các phương diện:

  • Thần thoại không phong phú.
  • Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.
  • Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.
  • Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.
  • Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

* Thế mạnh

  • Thế mạnh của văn hóa Việt Nam: thiết thực, linh hoạt, dung hòa, lành mạnh với những vẻ đẹp dịu dàng, thanh lịch, con người hiền lành, tình nghĩa.
  • Việt Nam có nhiều tôn giáo nhưng không xảy ra xung đột.
  • Con người sống tình nghĩa: tốt gỗ hơn tốt nước sơn, cái nết đánh chết cái đẹp….
  • Các công trình kiến trúc quy mô vừa và nhỏ, hài hòa với thiên nhiên.

b. Đặc điểm của văn hóa Việt Nam

– Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

– Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

– Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

– Sinh hoạt: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

– Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

– Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

– Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa….

=> Văn hóa của người Việt Nam giàu tính nhân bản, luôn hướng đến sự tinh tế, hài hòa trên nhiều phương diện. Đó chính là bản sắc văn hóa Việt Nam.

3. Con đường hình thành văn hóa

– Sự tạo tác của chính dân tộc.

– Khả năng chiếm lĩnh, đồng hóa những giá trị văn hóa bên ngoài.

Tổng kết:

– Nội dung: Từ hiểu biết sâu sắc về vốn văn hóa dân tộc, tác giả đã phân tích rõ những mặt tích cực và một số hạn chế của văn hóa truyền thống. Khi nắm vững bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta có thể khắc phục hạn chế, phát huy điểm mạnh.

– Nghệ thuật: văn phong khoa học chính xác, mạch lạc…

Soạn văn Nhìn về vốn văn hóa dân tộc ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Tác giả phân tích đặc điểm của vốn văn hóa dân tộc dựa trên những phương diện cụ thể nào của đời sống vật chất và tinh thần?

* Vật chất:

– Sinh hoạt: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

* Tinh thần:

– Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

– Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

– Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

– Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

– Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

– Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa…

Câu 2. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tạo văn hóa của Việt Nam là gì? Đặc điểm này nói lên thế mạnh gì của vốn văn hóa dân tộc? Lấy dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này.

– Đặc điểm nổi bật của sáng tạo văn hóa Việt Nam là: Văn hóa Việt Nam có tính nhân bản. Tinh thần chung là thiết thực, linh hoạt và dung hòa. Không có khát vọng hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhan, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn.

– Đặc điểm này đã nói lên thế mạnh tạo ra cuộc sống bình ổn, nhẹ nhàng.

– Dẫn chứng: những tục ngữ Việt Nam chứa đựng bài học nhân văn nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Câu 3. Những đặc điểm nào có thể xem là hạn chế của vốn văn hóa dân tộc?

– Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.

– Hạn chế trên các phương diện:

  • Thần thoại không phong phú.
  • Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.
  • Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.
  • Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.
  • Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

Câu 4. Những tôn giáo nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến văn hóa truyền thống Việt Nam? Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng nào để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc? Tìm một số ví dụ trong nền văn học để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa truyền thống Việt Nam là: Phật giáo và Nho giáo.

– Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng chọn lọc để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.

– Ví dụ: Tiếp thu những tư tưởng tích cực như nhân quả, đạo hiếu của đạo Phật được tiếp thu…

Câu 5. Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực hay hạn chế của văn hóa Việt Nam? Hãy giải thích rõ vấn đề này?

– Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực.

– Giải thích: Ở đây không phải là sự sáng tạo, tìm tòi, khai phá nhưng nó khẳng định được sự khéo léo, uyển chuyển của người Việt trong việc tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo nên những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Câu 6. Vì sao có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó, mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa các giá trị của văn hóa bên ngoài, về mặt đó, lịch sử đã chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Hãy liên hệ với thực tế lịch sử và văn học Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều năm bị đô hộ, áp bức. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta đã chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa nước ngoài. Nhưng sự ảnh hưởng được tiếp nhận một cách có chọn lọc, trên cơ sở giữ gìn được những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp. Nhờ đó mà nền văn hóa dân tộc trở nên phong phú, đa dạng hơn.

– Liên hệ thực tế lịch sử: Trong thời kỳ bị thực dân Pháp xâm lược, dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng bởi văn hóa của nước Pháp ở kiến trúc, tôn giáo…

II. Luyện tập

Viết một bài luận (khoảng 3 trang) về một trong những vấn đề sau đây:

1. Anh (chị) hiểu thế nào là truyền thống “tôn sư trọng đạo” – một nét đẹp của văn hoá Việt Nam ? Trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về truyền thống này trong nhà trường và xã hội hiện nay.

Gợi ý:

– Giải thích thế nào là “Tôn sư trọng đạo”?

  • “Tôn sư”: Tôn trọng thầy cô giáo
  • “Trọng đạo”: Coi trọng đạo lí

=> “Tôn sư trọng đạo”: Cần ghi nhớ công ơn, tôn trọng ân nghĩa của thầy cô giáo, coi trọng đạo lý, khắc sâu ơn nghĩa của những người đã dìu dắt, dạy dỗ học trò trong sự nghiệp trồng người.

– Tại sao cần phải “tôn sư trọng đạo”?

  • Thấy cô nâng đỡ, truyền đạt tri thức, chắp cánh nâng đỡ con người trong hành trình dài rộng của cuộc đời
  • Thầy cô dạy ta cách sống, cách làm người, hướng con người tới những giá trị sống tốt đẹp
  • Thầy cô là những người bạn luôn bên cạnh chia sẻ với học trò mỗi lúc buồn vui hay hạnh phúc.
  • Biết ơn thầy cô giáo là nét đẹp trong cách sống của con người, là biểu hiện của một người thực sự có văn hóa.

* Liên hệ truyền thống Tôn sư trọng đạo trong nhà trường và xã hội:

– Xã hội: ngày 20 tháng 11 được lấy là ngày nhà giáo Việt Nam.

  • Học sinh gửi những lời tri ân tới thầy cô nhân ngày 20 tháng 11.
  • Học hành chăm chỉ, lễ phép, ngoan ngoãn với thầy cô giáo…

Xem thêm tại Nghị luận về truyền thống Tôn sư trọng đạo

2. Theo anh (chị), nét đẹp văn hoá gây ấn tượng nhất trong những ngày Tết Nguyên đán của Việt Nam là gì ? Trình bày hiểu biết và quan điểm của anh (chị) về vấn đề này.

Gợi ý:

– Gói bánh chưng…

– Chúc Tết và lì xì đầu năm.

– Tết trồng cây…

3. Theo anh (chị), hủ tục cần bài trừ nhất trong các ngày lễ, tết ở Việt Nam là gì? Trình bày hiểu biết và quan điểm của anh (chị) về vấn đề này.

Gợi ý: đánh bài, uống rượu bia, hủ tục mê tín dị đoan…

5/5 - (669 votes)
Xem Thêm:   Tập làm văn lớp 4: Mở bài gián tiếp cho câu chuyện Bàn chân kì diệu (4 mẫu)