0

Soạn bài Người công dân số Một trang 4 – Tiếng Việt Lớp 5 tập 2 – Tuần 19

Share

Soạn bài Người công dân số Một trang 4 giúp các em dễ dàng chuẩn bị trước 4 câu hỏi bài tập đọc Người công dân số Một, cũng như hiểu hơn được ý nghĩa của bài tập đọc lớp 5 tuần 19 Tiếng Việt 5 Tập 2 để chuẩn bị thật tốt bài trước khi tới lớp nhé.

Đồng thời, cũng giúp thầy cô giáo tham khảo, nhanh chóng soạn giáo án bài tập đọc Người công dân số Một cho học sinh của mình. Vậy mời thầy cô cùng các em tham khảo nội dung chi tiết trong bài viết dưới đây của caubinhan.com:

Tập đọc lớp 5: Người công dân số Một trang 4

Tập đọc Người công dân số Một

Bài đọc

Người công dân số Một

Nhân vật: Anh Thành

Anh Lê

Anh Mai

Cảnh trí: Một ngôi nhà ở Xóm Chiếu, Sài Gòn. Dưới ngọn đèn dầu lù mù, anh Thành đang ngồi ghi chép. Anh Lê vào.

Lê: – Anh Thành! Mọi thứ tôi thu xếp xong rồi. Sáng mai anh có thể đến nhận việc đấy.

Thành: – Có lẽ thôi, anh ạ.

Lê: – Sao lại thôi? Anh chỉ cần cơm nuôi và mỗi tháng một đồng. Tôi đã đòi cho anh thêm mỗi năm hai bộ quần áo và mỗi tháng thêm năm hào…. (Nói nhỏ) Vì tôi nói với họ: anh biết chữ Tàu, lại có thể viết phắc-tuya bằng tiếng Tây.

Thành: – Nếu chỉ cần miếng cơm manh áo thì tôi đã ở Phan Thiết cũng đủ sống….

Lê: – Vậy anh vào Sài Gòn này làm gì?

Thành: – Anh Lê này! Anh học trường Sa-xơ-lu Lô-ba… thì… ờ anh là người nước nào/

Lê: – Anh hỏi lạ thật. Anh người nước nào thì tôi là người nước ấy.

Thành: – Đúng! Chúng ta là đồng bào. Cùng máu đỏ da vàng với nhau. Nhưng… anh có khi nào nghĩ đến đồng bào không?

Lê: – Sao lại không? Hôm qua ông đốc học nhắc lại nghị định của giám đốc Phú Lãng Sa tháng 5 năm 1881 về việc người bản xứ muốn vào làng Tây….

Thành: – À… Vào làng Tây để có tên Tây, đi lại, ăn ở, làm việc, lương bổng như Tây… Anh đã làm đơn chưa?

Người công dân số Một

Người công dân số Một

Lê: – Không bao giờ! Không bao giờ tôi quên dòng máu chảy trong cánh tay này là của họ Lê, anh hiểu không? Nhưng tôi chưa hiểu vì sao anh thay đổi ý kiến, không định xin việc làm ở Sài Gòn này nữa.

Thành: – Anh Lê ạ, vì đèn dầu ta không sáng bằng đèn hoa kì. Đèn hoa kì lại không sáng bằng đèn toạ đăng. Hôm qua, tôi đi xem chớp bóng lại thấy ngọn đèn điện mới thật là sáng nhất. Sáng như ban ngày mà không có mùi, không có khối.

Lê: – Anh kể chuyện đó làm gì?

Thành: – Vì anh với tôi…. Chúng ta là công dân của nước Việt….

(còn nữa)Theo Hà Văn Cầu – Vũ Đình Phòng

Từ khó

  • Anh Thành: (Nguyễn Tất Thành): tên Bác Hồ thời trẻ.
  • Phắc-tuya: hóa đơn
  • Trường Sa-xơ-lu Lô-ba: Một trường học ở Sài Gòn hồi đầu thế kỉ XX dành cho con cái người Pháp và những gia đình Việt Nam khá giả.
  • Đốc học: người phụ trách giáo dục ở một tỉnh, thành phố thời trước.
  • Nghị định: văn bản của cơ quan hành chính cấp cao quy định những điều cần thực hiện trong một lĩnh vực cụ thể.
  • Giám quốc: người đứng đầu nước Pháp lúc đó.
  • Phú Lãng Sa: nước Pháp
  • Vào làng Tây: nhập quốc tịch Pháp (trở thành công dân Pháp)
  • Đèn hoa kì: đèn dầu hỏa nhỏ, có bấc tròn.
  • Đèn tọa đăng: đèn để bàn loại to, thắp bằng đèn dầu hỏa
  • Chớp bóng: chiếu phim

Hướng dẫn đọc

  • Đọc đúng các từ khó: Xóm Chiếu, Sài Gòn, Sa-xơ-lu Lô-ba, Phú Lãng Sa.
  • Đọc lưu loát toàn bài, biết đọc bài với giọng rõ ràng mạch lạc, đọc đúng giọng nhân vật, thể hiện được lời của nhân vật:
    • Người dẫn chuyện: to, rõ ràng, mạch lạc.
    • Anh Thành: chậm rãi, trầm tĩnh, sâu lắng.
    • Anh Lê: hồ hởi, nhiệt tình.
  • Ngắt nghỉ hơi sau các dấu câu, giữa các cụm từ, nhấn giọng ở các từ gợi tả, gợi cảm.

Hướng dẫn giải phần Tập đọc SGK Tiếng Việt 5 tập 2 trang 6

Câu 1

Anh Lê giúp anh Thành việc gì?

Trả lời:

Anh Lê giúp anh Thành tìm việc ở Sài Gòn

Câu 2

Những câu nói nào của anh Thành cho thấy anh luôn luôn nghĩ tới dân, tới nước?

Trả lời:

Nhìn chung, các câu nói của anh Thành trong đoạn trích này đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến vấn đề cứu dân cứu nước. Những câu nói thể hiện trực tiếp của anh Thành về dân về nước là:

* Chúng ta là đồng bào, cùng máu mủ da vàng với nhau. Nhưng… anh có khi nào nghĩ đến đồng bào không?

* Vì anh với tôi… chúng ta là công dân nước Việt…

Câu 3

Câu chuyện giữa anh Thành và anh Lê nhiều lúc không ăn nhập với nhau. Hãy tìm những chi tiết thể hiện điều đó và giải thích vì sao như vậy.

Trả lời:

Câu chuyện giữa anh Thành và anh Lê nhiều lúc không ăn nhập với nhau.

Những chi tiết cho thấy câu chuyện giữa anh Thành và anh Lê không ăn nhập với nhau là:

– Anh Lê gặp anh Thành đế báo tin đã xin được việc làm cho anh Thành nhưng anh Thành lại không nói đến chuyện đó.

– Anh Thành thường không trả lời vào câu hỏi anh Lê, rõ nhất là hai lần đối thoại:

+ Anh Lê hỏi: Vậy anh vào Sài Gòn này làm gì?

Anh Thành đáp: Anh học trường Sa-xơ-lu Lô-ba… thì… ờ… anh là người nước nào?

+ Anh Lê nói: Nhưng tôi chưa hiểu vì sao anh thay đổi ý kiến, không xin việc lảm ở Sài Gòn này nữa.

Anh Thành trả lời: …vì đèn dầu ta không sáng bằng đèn Hoa Kì.

Sở dĩ câu chuyện giữa hai người nhiều lúc không gặp nhau vì mỗi người theo đuổi một ý nghĩ khác nhau. Anh Lê chỉ nghĩ đến công việc làm ăn của bạn, đến cuộc sống hằng ngày. Anh Thành nghĩ đến việc cứu nước, cứu dân.

Câu 4

Phân vai, đọc diễn cảm đoạn kịch trên.

Trả lời:

Con chủ động hoàn thành bài tập.

Ý nghĩa bài Người công dân số Một

Tâm trạng của người thanh niên Nguyễn Tất Thành day dứt, trăn trở tìm con đường cứu nước, cứu dân.

5/5 - (534 votes)
Xem Thêm:   Giáo án Giáo dục thể chất 2 sách Chân trời sáng tạo (Cả năm)