0

Sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp xây dựng lớp học thân thiện học sinh tích cực

Share

Sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp xây dựng lớp học thân thiện học sinh tích cực là mẫu sáng kiến kinh nghiệm rất hữu ích mà caubinhan.com muốn giới thiệu đến các bạn học sinh cùng tham khảo.

Tài liệu bao gồm 2 mẫu sáng kiến kinh nghiệm, hy vọng với các tài liệu này, sẽ giúp quý thầy cô, các cấp cán bộ quản lý phần nào đạt hiệu quả hơn trong giảng dạy và công tác. Sau đây là nội dung chi tiết, mời các bạn đọc giả cùng tham khảo và tải tài liệu tại đây.

Sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp xây dựng lớp học thân thiện học sinh tích cực

I. PHẦN MỞ ĐẦU

I.1. Lý do chọn đề tài

Năm 20… – 20… ngành giáo dục phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đây là bước tiến vượt bậc của ngành, tạo cho giáo viên làm việc trong bầu không khí tích cực. Phong trào này giúp cho việc giáo dục học sinh chủ động thân thiện hơn, tích cực hoạt động trong học tập, bước đầu rèn luyện kĩ năng sống cho các em như: Học để biết. Học để làm. Học để tự khẳng định mình. Học để cùng chung sống. Phong trào đã được bộ, sở, trường học, tổ chuyên môn triển khai sâu rộng. Toàn ngành đã ra sức thực hiện phong trào thi đua, đến nay đã thu được những thành tích đáng kể, đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, thi đua dạy tốt, học tốt, đào tạo nguồn nhân lực có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ để xây dựng đất nước. Trường học hiện nay không những cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học một cách có hệ thống, mà còn rèn cho các em những kĩ xảo, kĩ năng sống cần thiết để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp.

Năm học 20…-20… ngành vẫn tiếp tục chỉ đạo các trường đẩy mạnh thực hiện phong trào này với những yêu cầu cao hơn, thiết thực hơn, phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường. Để phong trào thi đua “Xây dựng được trường học thân thiện, học sinh tích cực” thực sự có bề rộng và chiều sâu, đem lại hiệu quả cao, thiết thực trong hoạt động dạy và học, giúp các em hứng thú, chủ động, sáng tạo, có các mối quan hệ thật sự thân thiện, tôi luôn băn khoăn, trăn trở với bao câu hỏi tự đặt ra cho bản thân: “Làm thế nào để HS đi chuyên cần?”; “Làm thế nào để các em hứng thú học tập hơn?”; “Làm sao các em có cảm giác, mỗi ngày đến trường là một niềm vui?” “Làm sao giáo viên nói ít mà học sinh hiểu nhiều hơn ?” Là một giáo viên chủ nhiệm tôi thấy rằng muốn xây dựng được trường học thân thiện, học sinh tích cực thì phải bắt đầu từ việc xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực. Vì mỗi lớp học thân thiện, học sinh tích cực là một viên gạch nền móng vững chắc cho một ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực hoàn thiện và nhanh nhất. Chính những lí do trên đã thúc đẩy tôi nghiên cứu, trải nghiệm đồng thời tích lũy những kinh nghiệm để thực hiện tốt phong trào “Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực”. Góp phần vào việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển một cách toàn diện đáp ứng thời kì mở cửa, hội nhập và phát triển của đất nước.

I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Thực tế cho thấy ngành giáo dục đã từng bước chuyển mình, có những thay đổi đáng kể để phù hợp với thời kì đổi mới. Nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, cách đánh giá cũng được đổi mới, trường học ngày một khang trang nhưng chất lượng giảng dạy vẫn còn hạn chế. Vẫn còn học sinh đi học chưa chuyên cần, vẫn còn nhiều học sinh chưa chủ động, tích cực, tự giác học tập, không khí lớp học không phải lúc nào cũng thoải mái… Vậy “Làm thế nào để các em hứng thú học tập hơn?” “Làm sao để các em có cảm giác, mỗi ngày đến trường là một niềm vui?” “Làm sao giáo viên nói ít mà học sinh hiểu nhiều hơn ?” “Làm sao để các em lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, chủ động? ” Làm sao để huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của trường, lớp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, khắc phục được tính thụ động của học sinh. Đó là một vấn đề rất nan giải, không phải giáo viên nào cũng làm được hay làm được ở tất cả các tiết học.

Cha mẹ học sinh cũng chưa nhận thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc học của con cái. Sự thân thiện giữa giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh có phần hạn chế.

Hiện nay nền giáo dục nước nhà đang chú trọng vào giáo dục con người phát triển toàn diện. Để góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của ngành, nâng cao chất lượng dạy và học, đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ta cần phải có bước đột phá trong cách nghĩ cũng như cách làm. Tiếp tục đẩy mạnh việc trang trí lớp, tạo môi trường học tập thân thiện. Đẩy mạnh cách dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Nắm được dấu hiệu đặc trưng của dạy học truyền thống và dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Xác định được các hoạt động mà giáo viên và học sinh có thể tiến hành trong dạy – học. Tạo ra được môi trường học tập thân thiện trong giảng dạy và giáo dục để cuốn hút học sinh tích cực, chủ động tham gia vào học tập, rèn luyện. Tạo được cơ hội cho học sinh tự khám phá, tìm tòi. Để làm tốt được việc đó thì giáo viên phải tự học, tự rèn để có một số kỹ năng cơ bản, cần thiết và vận dụng linh hoạt vào quá trình dạy học. Người dạy cần thực hiện đúng vai trò của mình chỉ là người cố vấn, tổ chức hoạt động, giúp đỡ và hỗ trợ các em học tập. Học sinh phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập. Tuyên truyền, động viên, khuyến khích được cha mẹ học sinh, các lực lượng khác cùng chung tay góp sức để giúp đỡ các em trong quá trình học tập và rèn luyện.

I.3. Đối tượng nghiên cứu

Học sinh và giáo viên giảng dạy ở tiểu học. Cụ thể là giáo viên và học sinh khối lớp 5 và khối 2 trường TH ………..

I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Học sinh và giáo viên giảng dạy ở tiểu học. Cụ thể là giáo viên và học sinh khối lớp 5 và khối 2 năm học 20…-20… và 20…-20… của trường TH ………..

Đề tài này trình bày những vấn đề liên quan đến 5 nội dung của phong trào “Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm góp phần vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ năm học, đào tạo con người mới phát triển toàn diện.

I.5. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :

– Phương pháp thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu như công văn chỉ

đạo thực hiện phong trào”Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” của các cấp, các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học, các tài liệu liên quan.

– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.

– Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp.

– Dạy thực nghiệm, trải nghiệm thực tế.

– Kiểm tra bằng nhiều hình thức khảo sát chất lượng bám sát vào 5 nội dung của phong trào từ đó đánh giá học sinh không chỉ về kiến thức mà cả các kĩ năng.

– Đúc rút kinh nghiệm.

II. NỘI DUNG

II.1. Cơ sở lí luận

Như mỗi chúng ta đã biết, một môi trường giáo dục tốt sẽ là nơi học sinh phát triển nhân cách tốt. Các em thấy được mỗi ngày đến trường là một ngày vui, từ đó thêm yêu trường, yêu lớp, gắn bó với “Ngôi nhà thứ hai” của mình. Trang trí lớp học thân thiện là một sự sáng tạo nhưng phải phù hợp với đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học. Giúp học sinh cảm nhận được cái đẹp và có ý thức giữ gìn trường lớp của mình sạch sẽ. Lớp học thân thiện phải là một lớp học không những trang trí đẹp mà phải có ý nghĩa và mang tính giáo dục cao. Ngoài những qui định về trang trí của ngành, giáo viên chủ nhiệm có thể sáng tạo thêm sao cho hài hòa, đẹp. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng là một việc làm hết sức quan trọng. Việc làm này phải thực hiện thường xuyên, liên tục nhưng lại không có một tiết học riêng biệt mà cần phải có sự linh hoạt trong việc tích hợp hài hòa của giáo viên trong các môn học, tiết học. Giáo dục các em những kĩ năng sống cơ bản như biết quan tâm, chia sẻ , động viên, thăm hỏi lẫn nhau…Hình thành cho các em luôn có thái độ thân thiện trong giao tiếp với mọi người. Đối với mỗi giáo viên, để thực hiện tốt nhiệm vụ trồng người, mỗi chúng ta cần tích cực học tập, rèn luyện, không ngừng phấn đấu vươn lên để có cả đức và tài, thực sự là tấm gương sáng cho các em noi theo. Vì ở lứa tuổi học sinh tiểu học khác với những lứa tuổi khác. Giáo viên tiểu học tạo nền móng cho các em vươn lên. Nền móng có vững thì sự phát triển của các em sau này sẽ vững chãi. Người thầy, cô ở tiểu học phải thực sự là người cha, người mẹ thứ hai của các em để các em không có cảm giác sợ sệt mà thay vào đó là sự kính trọng, thân thiện.

Ở tiểu học phần lớn các em rất tò mò, hiếu động, thích tham gia các trò chơi tập thể. Chính vì vậy mà việc tổ chức cho các em tham gia vào các trò chơi tập thể là một việc làm hết sức cần thiết. Thông qua các hoạt động”Học mà chơi – Chơi mà học” giúp các em dễ hòa đồng với bạn bè, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Khi các lớp học đã học đã thực sự thân thiện, học sinh thực sự tích cực thì sẽ góp phần tạo nên một trường học thân thiên – học sinh tích cực. Mối thân thiện giữa thầy và trò, nhà trường với cha mẹ học sinh ngày một tăng thêm. Giúp các em không những nắm được kiến thức một cách chủ động, nhẹ nhàng mà còn rèn cho các em nhiều kĩ năng khác góp phần giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện.

II. 2. Thực trạng

a) Thuận lợi, khó khăn

* Thuận lợi

– Được Ban giám hiệu quan tâm trang bị tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất như phòng học khang trang, có bảng chống lóa, tủ đựng đồ dùng, thiết bị dạy học, bàn ghế đầy đủ… Hàng năm nhà trường mua sắm bổ sung thiết bị dạy học, giáo viên thường xuyên tự làm đồ dùng để dạy học. Đội là một tổ chức hỗ trợ tốt cho việc thực hiện phong trào này.

– Được Phòng giáo dục, Ban giám hiệu tạo điều kiện cho tham gia lớp tập huấn và cung cấp đầy đủ các văn bản có liên quan đến việc chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và phong trào thi đua.

– Một số cha mẹ học sinh đã quan tâm đến việc học của con, phối kết hợp với giáo viên giúp các em học tập, rèn luyện tốt. Đóng góp đầy đủ để xây dựng trường. Không những đóng góp kinh phí mà còn tự nguyện tham gia ngày, giờ công để góp phần xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp.

– Một số học sinh đã có ý thức trong học tập, rèn luyện, tích cực hưởng ứng phong trào thi đua.

– Đây chính là kim chỉ nam giúp tôi càng hăng say nghiên cứu đề tài này.

* Khó khăn

– Học sinh còn nhỏ nên khả năng giao tiếp còn hạn chế, bên cạnh đó só em lại ở trọ hoặc sống với cô, dì, ông bà, sự dạy bảo, điều chỉnh các em thực hiện kĩ năng soosngs còn hạn chế.

– Đồ dùng dạy học trong nhà trường chưa được được phong phú, đa dạng.

– Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cũng như tích cực hưởng ứng phong trào thi đua cho học sinh, đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ, tức là phải có năng lực sư phạm, phải thực sự coi mình là người mẹ thứ hai của các em, gần gũi để các em tâm sự, giãi bày.

– Một số đồng nghiệp không ủng hộ vì để làm được việc đó phải mất nhiều công sức, thời gian. Một khó khăn nữa là khả năng cảm nhận cái đẹp của mỗi giáo viên khác nhau, người thì khéo léo trong việc trang trí nhưng phần lớn giáo viên lớn tuổi thì họ không hứng thú với điều này. Một số giáo viên vẫn còn chỉ coi trọng việc dạy kiến thức cho học sinh mà ít quan tâm tới giáo dục kĩ năng cho các em.

Cũng có giáo viên đã quan tâm tới việc tích hợp giáo dục kĩ năng nhưng khả năng

tích hợp chưa linh hoạt.

– Để thực hiện được đề tài này đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi, chịu hy sinh thời gian của mình để học hỏi, đưa ra nhiều tình huống có thể xảy ra để có hướng giải quyết, phải nhiệt tình, hết lòng vì học sinh. Bước đầu thực hiện nên còn gặp nhiều bỡ ngỡ, chưa có tính linh hoạt.

– Thời gian được tập huấn nội dung này còn ít, giáo viên chưa được tham quan mô hình thực hiện cụ thể mà chỉ mới chỉ thực hiện thông qua học lý thuyết hiểu sao thì làm vậy.

– Học sinh chưa quen với cách học mới, một số em chưa đủ đồ dùng để tham gia học, chưa có ý thức học tập.

– Một số cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học và còn thờ ơ đến việc trang bị đồ dùng học tập cho các em, đóng góp còn chậm. Một số cha mẹ còn coi nặng việc học kiến thức, xem nhẹ việc giáo dục các kĩ năng sống cho các em.

b) Thành công, hạn chế

* Thành công

– Lớp học trang trí đẹp, hài hòa, học sinh thích đến lớp, yêu quí lớp, khơi dậy cho học sinh phải trăn trở mình phải đóng góp gì vào đây để lớp mình thêm đẹp từ đó các em tìm tòi và thể hiện tài năng của mình có thể là vẽ, viết, xé dán…

– Học sinh thoải mái trao đổi, thắc mắc trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới. Nắm, ghi nhớ được chắc kiến thức ngay tại lớp.

– Không khí lớp học tươi vui, tất cả học sinh đều phải làm việc, pháp huy được tính chủ động, tích cực của học sinh, các hoạt động của lớp có sự thay đổi rõ rệt. Các em biết quan tâm tới nhau hơn, tự giác giúp đỡ nhau trong học tập cũng như vui chơi. Lớp học trở thành một khối đoàn kết thống nhất, tích cực thi đua học tập và tham gia các phong trào mà các cấp phát động.

– Giáo viên điều chỉnh được những suy nghĩ chưa đúng đắn, còn lệch lạc, mơ hồ ở học sinh. Tạo được mối quan hệ thân thiện trong giao tiếp với học sinh giúp khoảng cách giữa giáo viên và học sinh gần gũi hơn. Giảng dạy, giáo dục học sinh không chỉ là kiến thức của bài mà giáo dục toàn diện cho học sinh như các kỹ năng giao tiếp, kĩ năng ứng xử …

– Giữ gìn được bản sắc văn hóa của dân tộc thông qua các trò chơi dân gian, hiểu để từ đó giữ gìn và phát huy được giá trị văn hóa của dân tộc, địa phương.

* Hạn chế

Một số giáo viên chưa hiểu rõ về tầm quan trọng, tính giáo dục của việc trang trí, cứ thấy đẹp là dán lên nên việc trang trí chưa khoa học, lòe loẹt, phòng học tối vì trang trí nhiều hoa lá trên cửa sổ. Bước đầu thay đổi cách dạy học mới, phần đa giáo viên thấy ngại, để học sinh tự nêu câu hỏi, tự nêu kiến thức mà mình biết được sẽ làm thì mất thời gian vì vậy chọn lối dạy học cũ là làm thay, nói giùm học sinh để đảm bảo thời gian và tránh được người khác đánh giá nề nếp lớp học không nghiêm túc. Giáo viên gặp phải tình huống sư phạm khó xử mà học sinh đưa ra sẽ bị lúng túng, e ngại với học sinh. Một số giáo viên sợ mất thời gian nên thực hiện việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống còn qua loa, đại khái, chưa có hiệu quả cao. Một số giáo viên chưa thực sự nhiệt tình, năng động thì việc hướng dẫn học sinh tham gia trò chơi dân gian, tìm hiểu, phát huy các giá trị văn hóa ở địa phương còn rất nhiều hạn chế.

– Một số ít học sinh nhút nhát, chưa tự tin trước tập thể thì không thích tham gia.

c) Mặt mạnh, mặt yếu

* Mặt mạnh

– Khơi dậy ở các em tính thẩm mĩ, sự sáng tạo trong trang trí cùng với ý thức muốn góp sức để làm đẹp lớp. Phát huy tinh thần đoàn kết, ý thức vì tập thể của học sinh.

– Học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức cho các em tìm tòi, khám phá kiến thức vì vậy nên các em hiểu bài sâu hơn, ghi nhớ bền lâu hơn. Tránh được tình trạng giáo viên nói nhiều, chỉ mải thuyết trình mà không biết học sinh nắm được gì? Nắm được đến đâu để có hướng khắc phục, điều chỉnh kịp thời. Tất cả các đối tượng học sinh đều được tham gia bày tỏ ý kiến. Tạo cho các em có tính nhút nhát mạnh dạn hơn. Tạo môi trường thân thiên trong quá trình giảng dạy.

– Các em nhanh nhẹn, hoạt bát hơn khi tham gia các trò chơi và các hoạt động tập thể. Tự tin, mạnh dạn trong cuộc sống, khả năng giao tiếp tốt, có những kĩ năng cơ bản để ứng xử kịp thời.

* Mặt yếu

Nếu giáo viên không có sự tìm tòi, sáng tạo, chuẩn bị bài chưa chu đáo, không lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp thì tiết học dẫn đến nhàm chán. Có thể gặp phải tình huống khó xử khi học sinh hỏi. Từ đó sẽ lúng túng, mất tự tin khi dạy, không linh hoạt và có kỹ năng sư phạm tốt thì sẽ làm mất lòng tin tưởng ở học sinh.

– Nếu giáo viên không khôn khéo trong việc tận dụng các nguồn lực thì sẽ không có nguồn kinh phí để thực hiện. Cái gì cũng thuê làm thì cũng không kích thích được sự sáng tạo của học sinh và trách nhiệm, ý thức của các em trong việc bảo vệ, giữ gìn, thái độ tham gia sẽ không được nâng cao.

d) Nguyên nhân

– Trường học được xây dựng kiên cố, nhưng chưa được trang bị đầy đủ các thiết bị đồ dùng dạy học cho tất cả các tiết học, phòng ngoại ngữ, phòng âm

nhạc, khu vui chơi, bãi tập…

– Học sinh còn nhỏ, một số em ở xa đi lại còn khó khăn, nhất là lúc trời mưa.

– Địa phương còn nhiều khó khăn, có nhiều học sinh thuộc hộ gia đình hộ nghèo và cận nghèo.

– Một số cha mẹ các em đi làm xa nhà, để con ở trọ hoặc gửi cho họ hàng nên việc quan tâm đúng mức tới các em còn rất nhiều hạn chế.

– Các em học sinh tiểu học còn nhỏ, còn ham chơi, chưa ý thức hết được tầm quan trọng của việc học tập, chưa tự giác học tập. Còn nhiều em đi học muộn, đi học chưa chuyên cần vì ngủ quên…, có em không có đủ sách vở và đồ dùng để học tập. Vì vậy trong giờ học các em không có đồ dùng để thực hành, để trải nghiệm nên ảnh hưởng lớn đến việc nắm bắt kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết của tiết học.

– Phần lớn ở lứa tuổi này các em đều có tính hiếu động, tò mò, muốn được giải thích thắc mắc hay một điều gì mà trong quá trình khám phá các em chưa hiểu. Thích bày tỏ để các bạn và cô giáo thấy được kết quả khám phá của mình dù đúng hay sai. Nếu không nắm được đặc điểm của lứa tuổi thì việc giáo dục gặp rất nhiều trở ngại.

– Để đảm bảo các chỉ tiêu của trường, lớp, ngành đề ra, các áp lực công việc về thời lượng tiết dạy, mục tiêu bài học, kết hợp giáo dục lồng ghép, phân hóa đối tượng học sinh, hồ sơ giáo viên….Không ít giáo viên đôi khi quá nóng vội trong việc giáo dục học sinh để đảm bảo những chỉ tiêu và hoàn tất các công việc đó. Chính vì lí do trên, giáo viên dễ rơi vào tình trạng áp đặt, nhồi nhét kiến thức, răn đe, hình phạt, roi vọt, gò bó học sinh, chưa lắng nghe tâm tư nguyện vọng tình cảm của các em . Việc đánh giá sửa sai còn khắt khe, chưa dân chủ. Làm cho các em cảm thấy mệt mỏi, chán nản, sợ học, triệt tiêu sự ngây thơ, ham học hỏi, tính tích cực, sôi nổi của các em.

– Một số giáo viên chưa thường xuyên tự bồi dưỡng thêm những kiến thức và kĩ năng sư phạm cũng như các kiến thức tâm sinh lí trẻ thường xuyên nên đôi khi thấy lúng túng trong các tình huống sư phạm. Giáo viên không chuẩn bị đồ dùng dạy học cho một tiết dạy, dạy chay, dạy một chiều tiết học không sinh động. Sự định hướng đúng đắn của giáo viên có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động. Nếu ta chủ quan, lơ là thì kết quả không những không có tính giáo dục mà còn làm mất đi sự hứng thú tham gia của học sinh và cha mẹ các em. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, chán học, bỏ học, thụ động, nhút nhát, mất tự tin, chưa thực sự yêu trường, mến lớp của học sinh.

e) Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.

– Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện về sơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc

dạy và học. Thường xuyên động viên khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp, tăng cường làm đồ dùng phục vụ giảng dạy, nâng cao mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, cha mẹ học sinh với giáo viên. Thông qua việc dự giờ góp ý cho giáo viên đổi mới cách dạy, cách trang trí lớp nhằm cuốn hút, tạo hứng thú cho các em trong học tập. Tổ chức các chuyên đề để giáo viên được trao đổi, học tập lẫn nhau. Tổ chức thi làm đồ dùng dạy học. Hàng tháng có kiểm tra việc tự làm đồ dùng và sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên và kiểm tra đột xuất việc chuẩn bị đồ dùng của học sinh, cách trang trí lớp của các lớp.

– Một số giáo viên ngại đổi mới cho rằng kiến thức đơn giản, xưa nay vẫn dạy vậy mà học sinh vẫn lên lớp, vẫn trưởng thành nên cứ thế mà làm, không cần phải mất thời gian nghiên cứu chuẩn bị, vừa tốn kém thời gian nghiên cứu, thời gian làm đồ dùng, tốn kinh phí. Họ chưa hiểu được rằng kiến thức đó sẽ đọng lại trong đầu các em bao lâu, giúp ích gì cho các em trong cuộc sống. Bên cạnh việc nắm kiến thức đó học sinh còn có thêm các kỹ năng gì để vận dụng vào cuộc sống, góp phần giáo dục con người mới phát triển toàn diện phù hợp với tình hình đất nước thời kỳ đổi mới.

– Đồ dùng dạy học và các thiết bị dạy học được nhà trường bảo quản tốt, hàng năm được mua sắm thêm. Mỗi năm giáo viên lại làm thêm nhiều đồ dùng để phục vụ dạy học. Phần lớn vẫn là đồ dùng mong hỏng, rẻ tiền.

– Phương pháp dạy học cũ đã ăn sâu vào một số giáo viên lớn tuổi, ngại đổi mới. Để thay đổi được quả là một vấn đề khó khăn. Qua tập huấn, chuyên đề, dự giờ, góp ý họ cũng một phần nào nắm được phương pháp mới song sự vận dụng còn gò bó, chưa linh hoạt, chưa thường xuyên nên kết quả giảng dạy chưa cao.

– Cha mẹ học sinh của một số em thường xuyên quan tâm, kết hợp với giáo viên để giúp con học tập thì các em đó tiếp thu tốt bài. Bên cạnh đó có một số cha mẹ học sinh do điều kiện kinh tế khó khăn lo lao vào làm kinh tế nên chưa có thời gian quan tâm đến sát sao đến con cái. Không cần qua tâm đến thái độ, hành vi, cách ứng xử của các em. Đồ dùng học tập, sách vở của các em còn thiếu, đi học còn quên đồ dùng. Vì vậy trong giờ học các em không có đồ dùng để thực hành, để trải nghiệm nên ảnh hưởng lớn đến việc nắm bắt kiến thức cũng như các kỹ năng cần thiết của tiết học. Trong cuộc sống các em chưa mạnh dạn, tự tin, ứng xử chưa thân thiện trong giao tiếp, chưa có kĩ năng ứng xử, đối phó kịp thời khi gặp tình huống trong đời sống hằng ngày.

– Học sinh phần lớn rất thích học theo phương pháp dạy học mới vì các em được thoải mái hơn, thích thú hơn, hiểu bài hơn nên càng có hứng thú học tập. Bên cạnh đó một số em tính nhút nhát thì không thích giao lưu, tiếp xúc với bạn, với giáo viên. Một số em không có đồ dùng thì lo sợ khi nghe yêu cầu mang đồ dùng ra học. Trước những vấn đề đó giáo viên cần có biện pháp kết hợp với cha mẹ các em tốt hơn, tham mưu với hội cha mẹ học sinh của trường, lớp và các đoàn thể để giúp đỡ các em. Tạo cho các em không những nắm tốt nội dung kiến thức mà còn có được những kỹ năng cơ bản của tiết học, mạnh dạn hơn trước tập thể.

III. 3. Giải pháp, biện pháp

a) Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.

– Nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với thực tế của trường, lớp. Tạo cho các em thực sự yêu trường, mến lớp thấy được mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui.

– Giúp học sinh có hứng thú trong học tập, thu hút được tất cả học sinh vào quá trình học. Học sinh chủ động, tích cực học tập, ghi nhớ kiến thức sâu hơn, kĩ hơn, tiết học không nặng nề, đơn điệu. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, thân thiện nhưng vẫn đảm bảo được việc giáo dục toàn diện cho học sinh về thái độ, tình cảm, thẩm mĩ…Cập nhật được những vấn đề xung quanh gắn với đời sống thực tế của học sinh. Phát huy được tính năng động, sáng tạo trong các em.

b) Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

Qua những năm thực tế giảng dạy, tìm tòi học hỏi trên các phương tiện và qua trao đổi với đồng nghiệp tôi rút ra được một số kinh nghiệm để “Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực” như sau:

* Công tác tham mưu

– Làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo nhà trường để nâng cao về chất lượng sơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Mua sắm thêm tài liệu tham khảo, máy chiếu, đồ dùng phục vụ tốt cho việc dạy và học. Tổ chức có chất lượng các chuyên đề để học tập, trao đổi kinh nghiệm dạy học. Tổ chức dự giờ tập trung để cùng góp ý cho nhau tiến bộ. Triển khai các sáng kiến kinh nghiệm có chất lượng để cùng học tập. Đăng kí mua báo, tập san về giáo dục thời đại…

– Tham mưu tốt với Ban tự quản thôn nơi học sinh cư trú để tuyên truyền, vận động tốt việc đưa con em đến trường học đúng độ tuổi và trách nhiệm của cha mẹ đối với việc học của con cái.

– Tham mưu với Ban chấp hành hội cha mẹ học sinh, cùng với họ vận động, tuyên truyền, giúp học sinh, phụ huynh tháo gỡ, khắc phục khó khăn tạo điều kiện giúp các em học tốt.

– Kết hợp tốt với các đoàn thể trong nhà trường để giáo dục các em.

– Kết hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh để có biện pháp điều chỉnh, giúp đỡ các em kịp thời.

* Tìm hiểu lí lịch của học sinh

Khi nhận lớp tôi bắt đầu ngay vào việc tìm hiểu lí lịch của học sinh cũng như lực học và sự rèn luyện của các em. Nhận xét mối quan hệ của các em trong lớp từ đó phân chia các đối tượng vào các tổ, các nhóm có đủ các thành phần giỏi, yếu, có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh tốt. Cũng từ đây mà các em có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau vì vậy các em sẽ quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo viên giao.

* Tổ chức họp cha mẹ học sinh đầu năm

Nhằm báo cáo tình hình lớp, vận động sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh vào việc dọn vệ sinh trường lớp đầu năm, việc hỗ trợ lớp thời gian để lau mạng nhện, lau nhà đối với học sinh lớp 2. Tuyên truyền, vận động cha mẹ các em tham gia xây dựng “Thư viện thân thiện” của lớp để giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh khó khăn có sách, vở, đồ dùng để học tập. GV đưa ra mục tiêu, lấy ý tưởng của cha mẹ học sinh, thảo luận, thống nhất việc đóng góp và trang trí lớp cùng với việc giáo dục các em phát triển toàn diện.

* Tăng cường công tác trang trí lớp học

– Không khí lớp học xanh, sạch, đẹp, an toàn thân thiện là yếu tố rất quan trọng góp phần thu hút trẻ đến trường, đến lớp, góp thêm cho lớp học một luồng không khí thân thiện, thoải mái, sinh động, hăng say trong giờ học, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Các khẩu hiệu trong lớp mang ý nghĩa quan trọng, mang tính giáo dục cao “Dạy tốt, học tốt”, “Mỗi ngày đến lớp là một niềm vui”, nội qui học sinh, bảng ghi năm điều Bác Hồ dạy. Vì thế giáo viên cần phải giải thích để các em hiểu được nội dung, ý nghĩa của mỗi bảng, mỗi khẩu hiệu. Di ảnh Bác Hồ được treo nơi trang trọng nhất, dễ thấy. Giáo dục lòng kính yêu nhớ ơn Bác Hồ, lòng yêu nước.

– Thường xuyên nhắc nhở học sinh giữ gìn tài sản chung của nhà trường từ chỗ ngồi, cửa sổ, lớp học, hành lang cho đến sân trường, “Hãy giữ gìn tài sản chung của chúng ta”.

– Lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng lại đạt được kết quả cao như: “Cho tôi xin rác!” hay “Tắt đèn, tắt quạt bạn nhé!” nhằm nhắc nhở các em có ý thức tự giác giữ vệ sinh trường lớp, tiết kiệm điện.

– Lớp có đủ ánh sáng, quạt, lọ hoa, cây xanh, tạo không khí thật sự thoải mái, thân thiện gần gũi với thiên nhiên hơn. Bàn giáo viên có khăn trải bàn, lọ hoa, tủ đồ dùng phải gọn gàng sắp xếp khoa học, sạch đẹp, dễ đưa vào sử dụng.

– Huy động học sinh và cha mẹ các em cùng tham gia xây dựng “Tủ sách thân thiện”của lớp, tạo điều kiện cho các em ham đọc sách, mở rộng hiểu biết, phát triển khả năng đọc cho các em. Rèn kĩ năng và trách nhiệm bảo quản tài sản chung, gọn gàng, ngăn nắp.

– Vườn hoa học tập, bảng danh dự, phản ánh rõ ràng, chính xác, công khai kết quả học tập của mỗi em tư đó kích thích học sinh tích cực học tập để đạt được kết quả cao hơn.(như hay có tên mình trên bảng danh dự, tên mình có nhiều bông hoa hơn..)

Sử dụng cuối lớp làm Bảng tin lớp em được trang trí đẹp, nội dung phong phú, phù hợp lứa tuổi của các em.

…………

Mời các bạn tải file tài liêu để xem thêm nội dung chi tiết

5/5 - (846 votes)
Xem Thêm:   Đề cương ôn thi giữa học kì 2 môn Hóa học 11